Công Vụ Các Sứ Đồ: Chương 20

Từ Thư Viện Tin Lành
(đổi hướng từ KTB44C020)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Khi vụ rối loạn đã chấm dứt, Phao-lô mời các môn đồ đến để khích lệ, rồi từ giã, và đi Ma-xê-đô-nia. 2. Và rồi ông đã đi qua những khu vực đó, dùng lời khích lệ họ, rồi đến Hy Lạp. 3. Sau ba tháng, khi ông sắp đón tàu đi Sy-ri, người Do Thái lập mưu hãm hại ông, nên ông quyết định qua Ma-xê-đô-nia để trở về. 4. Sau đó, cùng đi với ông có Sô-ba-tê Pi-ru, là người Bê-rê; A-ri-tạc và Sê-cun-đu từ Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út từ Đẹt-bơ; Ty-chi-cơ và Trô-phim ở A-sia, và Ti-mô-thê. 5. Những người nầy đã đi trước và đợi chúng tôi tại Trô-ách. 6. Sau kỳ lễ Bánh Không Men, chúng tôi xuống thuyền rời Phi-líp; năm ngày sau chúng tôi gặp họ tại Trô-ách, rồi ở lại đó bảy ngày.

7. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh. Phao-lô đã giảng luận cho họ. Vì ngày mai phải lên đường, cho nên ông tiếp tục giảng cho đến nửa đêm. 8. Có nhiều đèn trong phòng cao nơi chúng tôi đang nhóm lại. 9. Trong lúc Phao-lô giảng rất dài, có một thanh niên, tên là Ơ-tích, đang ngồi trên cửa sổ ngủ gục. Vì ngủ quá say, anh đã từ tầng thứ ba té xuống; khi đỡ dậy thì anh đã chết. 10. Tuy nhiên Phao-lô đã xuống, nghiêng mình trên anh, ôm lấy anh rồi nói: “Đừng náo động! Bởi vì sự sống của anh ta vẫn còn trong anh ta!” 11. Sau đó Phao-lô đã quay lại, bẻ bánh, rồi ăn; vì ông nói chuyện rất lâu cho đến sáng, rồi lên đường. 12. Sau đó người ta đã đưa cậu bé về nhà, nó vẫn sống cho nên mọi người đều được an ủi không ít.

13. Tuy nhiên chúng tôi đã đi trước đến thuyền, rồi giong buồm đến A-sốt, là nơi chúng tôi sẽ đón Phao-lô; bởi vì ông định đi đường bộ nên mới sắp đặt như vậy. 14. Khi gặp ông tại A-sốt, chúng tôi đón ông, rồi chúng tôi đến Mi-ti-len. 15. Giong buồm từ đó, ngày hôm sau chúng tôi đến đối ngang của Chi-ô. Ngày kế tiếp, chúng tôi vượt qua Sa-mốt, và ngày hôm chúng tôi đến Mi-lê. 16. Vì Phao-lô đã quyết định chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, chứ không dừng lại để khỏi mất thì giờ tại A-sia, ông đi vội vàng để nếu có thể được thì sẽ hiện diện tại Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ Ngũ Tuần.

17. Sau đó, từ Mi-lê, ông đã sai người đến Ê-phê-sô để mời các trưởng lão trong Hội Thánh. 18. Khi họ đến, ông đã nói với họ: “Anh em biết rằng từ ngày đầu tiên tôi đến A-sia, tôi đã cư xử với anh em như thế nào suốt cả thời gian tôi ở với anh em. 19. Tôi đã phục vụ Chúa với tất cả sự khiêm nhường, với nhiều nước mắt, và nhiều thử thách do người Do Thái lập mưu hại tôi. 20. Tôi đã không giữ lại bất cứ điều gì có lợi cho anh em mà không tỏ cho anh em biết. Tôi đã giảng dạy cho anh em tại nơi công cộng và tại các tư gia; 21. đã nhiệt tâm khuyến cáo cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin nơi Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus. 22. Hãy xem, hiện nay tôi được Thánh Linh thúc giục đến Giê-ru-sa-lem, tôi không biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó; 23. ngoại trừ Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi. 24. Nhưng tôi không kể sự sống của mình là quý, miễn sao hoàn tất sứ mạng và chức vụ của tôi, mà tôi đã nhận lãnh nơi Chúa, là Đức Chúa Jesus, để công bố thật trọn vẹn về Phúc Âm ân điển của Đức Chúa Trời. 25. Bây giờ, tôi biết rằng tất cả anh em mà tôi đã rao giảng về vương quốc của Đức Chúa Trời, không một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. 26. Do đó, hôm nay tôi xác nhận với anh em rằng tôi vô tội về huyết của tất cả anh em. 27. Bởi vì tôi đã công bố toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời cho anh em, không giữ lại điều gì. 28. Anh em hãy giữ chính mình và luôn cả bầy chiên mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn dắt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết của Ngài. 29. Tôi biết rằng sau khi tôi rời khỏi, sẽ có muông sói dữ tợn vào giữa anh em, chúng không tiếc bầy. 30. Ngay từ giữa anh em, cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ. 31. Vì vậy, hãy tỉnh thức và nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người. 32. Bây giờ, tôi ký thác anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo ân điển của Ngài, là đạo có thể xây dựng và ban cơ nghiệp cho anh em, ở giữa tất cả những người được thánh hóa. 33. Tôi không ham bạc, vàng, hay là quần áo của ai hết. 34. Chính các anh em biết các bàn tay nầy đã cung ứng những nhu cầu của tôi và của các bạn đồng lao của tôi. 35. Trong mọi sự, tôi đã bày tỏ cho anh em thấy rằng chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, cho nên chúng ta phải làm việc vất vả như vậy. Cũng hãy nhớ lại lời của Chúa, là Ðức Chúa Jesus, mà chính Ngài đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’”

36. Nói xong những lời nầy, ông đã quỳ xuống trên gối của mình và cầu nguyện với tất cả. 37. Mọi người đều khóc rất nhiều, ôm lấy cổ của Phao-lô, và họ hôn ông. 38. Họ đặc biệt đau buồn về lời mà ông nói rằng họ sẽ không bao giờ thấy mặt của ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

Bản Dịch Đại Chúng

Khi vụ rối loạn đã chấm dứt, Phao-lô mời các môn đồ đến để khích lệ, rồi từ giã, và đi Ma-xê-đô-nia. Và rồi ông đã đi qua những khu vực đó, dùng lời khích lệ họ, rồi đến Hy Lạp. Sau ba tháng, khi ông sắp đón tàu đi Sy-ri, người Do Thái lập mưu hãm hại ông, nên ông quyết định qua Ma-xê-đô-nia để trở về. Sau đó, cùng đi với ông có Sô-ba-tê Pi-ru, là người Bê-rê; A-ri-tạc và Sê-cun-đu từ Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út từ Đẹt-bơ; Ty-chi-cơ và Trô-phim ở A-sia, và Ti-mô-thê. Những người nầy đã đi trước và đợi chúng tôi tại Trô-ách. Sau kỳ lễ Bánh Không Men, chúng tôi xuống thuyền rời Phi-líp; năm ngày sau chúng tôi gặp họ tại Trô-ách, rồi ở lại đó bảy ngày.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh. Phao-lô đã giảng luận cho họ. Vì ngày mai phải lên đường, cho nên ông tiếp tục giảng cho đến nửa đêm. Có nhiều đèn trong phòng cao nơi chúng tôi đang nhóm lại. Trong lúc Phao-lô giảng rất dài, có một thanh niên, tên là Ơ-tích, đang ngồi trên cửa sổ ngủ gục. Vì ngủ quá say, anh đã từ tầng thứ ba té xuống; khi đỡ dậy thì anh đã chết. Tuy nhiên Phao-lô đã xuống, nghiêng mình trên anh, ôm lấy anh rồi nói: “Đừng náo động! Bởi vì sự sống của anh ta vẫn còn trong anh ta!” Sau đó Phao-lô đã quay lại, bẻ bánh, rồi ăn; vì ông nói chuyện rất lâu cho đến sáng rồi mới lên đường. Sau đó người ta đã đưa cậu bé về nhà, nó vẫn sống cho nên mọi người đều được an ủi không ít.

Tuy nhiên chúng tôi đã đi trước đến thuyền, rồi giong buồm đến A-sốt, là nơi chúng tôi sẽ đón Phao-lô - bởi vì ông định đi đường bộ nên mới sắp đặt như vậy. Khi gặp ông tại A-sốt, chúng tôi đón ông, rồi chúng tôi đến Mi-ti-len. Giong buồm từ đó, ngày hôm sau chúng tôi đến đối ngang của Chi-ô. Ngày kế tiếp, chúng tôi vượt qua Sa-mốt, và ngày hôm chúng tôi đến Mi-lê. Vì Phao-lô đã quyết định chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, chứ không dừng lại để khỏi mất thì giờ tại A-sia, ông đi vội vàng để nếu có thể được thì sẽ hiện diện tại Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ Ngũ Tuần.

Sau đó, từ Mi-lê, ông đã sai người đến Ê-phê-sô để mời các trưởng lão trong Hội Thánh. Khi họ đến, ông đã nói với họ: “Anh em biết rằng từ ngày đầu tiên tôi đến A-sia, tôi đã cư xử với anh em như thế nào suốt cả thời gian tôi ở với anh em. Tôi đã phục vụ Chúa với tất cả sự khiêm nhường, với nhiều nước mắt, và nhiều thử thách do người Do Thái lập mưu hại tôi. Tôi đã không giữ lại bất cứ điều gì có lợi cho anh em mà không tỏ cho anh em biết. Tôi đã giảng dạy cho anh em tại nơi công cộng và tại các tư gia; đã nhiệt tâm khuyến cáo cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin nơi Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus. Hãy xem, hiện nay tôi được Thánh Linh thúc giục đến Giê-ru-sa-lem, tôi không biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó; ngoại trừ Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi. Nhưng tôi không kể sự sống của mình là quý, miễn sao hoàn tất sứ mạng và chức vụ của tôi, mà tôi đã nhận lãnh nơi Chúa, là Đức Chúa Jesus, để công bố thật trọn vẹn về Phúc Âm ân điển của Đức Chúa Trời. Bây giờ, tôi biết rằng tất cả anh em mà tôi đã rao giảng về vương quốc của Đức Chúa Trời, không một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. Do đó, hôm nay tôi xác nhận với anh em rằng tôi vô tội về huyết của tất cả anh em. Bởi vì tôi đã công bố toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời cho anh em, không giữ lại điều gì. Anh em hãy giữ chính mình và luôn cả bầy chiên mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn dắt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết của Ngài. Tôi biết rằng sau khi tôi rời khỏi, sẽ có muông sói dữ tợn vào giữa anh em, chúng không tiếc bầy. Ngay từ giữa anh em, cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ. Vì vậy, hãy tỉnh thức và nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người. Bây giờ, tôi ký thác anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo ân điển của Ngài, là đạo có thể xây dựng và ban cơ nghiệp cho anh em, ở giữa tất cả những người được thánh hóa. Tôi không ham bạc, vàng, hay là quần áo của ai hết. Chính các anh em biết các bàn tay nầy đã cung ứng những nhu cầu của tôi và của các bạn đồng lao của tôi. Trong mọi sự, tôi đã bày tỏ cho anh em thấy rằng chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, cho nên chúng ta phải làm việc vất vả như vậy. Cũng hãy nhớ lại lời của Chúa, là Ðức Chúa Jesus, mà chính Ngài đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’”

Nói xong những lời nầy, ông đã quỳ xuống trên gối của mình và cầu nguyện với tất cả. Mọi người đều khóc rất nhiều, ôm lấy cổ của Phao-lô, và họ hôn ông. Họ đặc biệt đau buồn về lời mà ông nói rằng họ sẽ không bao giờ thấy mặt của ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Khi vụ rối loạn đã chấm dứt, Phao-lô mời các môn đồ đến để khích lệ, từ giã, rồi đi Ma-xê-đô-nia. 2. Và rồi ông đã đi qua những khu vực đó, dùng lời khích lệ họ, rồi đến Hy Lạp. 3. Sau ba tháng, khi ông sắp đón tàu đi Sy-ri, người Do Thái lập mưu hãm hại ông, nên ông quyết định qua Ma-xê-đô-nia để trở về. 4. Cùng đi với ông có Sô-ba-tê Pi-ru, là người Bê-rê; A-ri-tạc và Sê-cun-đu từ Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út từ Đẹt-bơ; Ty-chi-cơ và Trô-phim ở A-sia, và Ti-mô-thê. 5. Những người nầy đã đi trước và đợi chúng tôi tại Trô-ách. 6. Sau kỳ lễ Bánh Không Men, chúng tôi xuống thuyền rời Phi-líp; năm ngày sau chúng tôi gặp họ tại Trô-ách, rồi ở lại đó bảy ngày.

7. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh. Phao-lô giảng luận cho họ; vì ngày mai phải lên đường, cho nên ông tiếp tục giảng cho đến nửa đêm. 8. Có nhiều đèn trong phòng cao nơi chúng tôi đang nhóm lại. 9. Trong lúc Phao-lô giảng rất dài, có một thanh niên, tên là Ơ-tích, đang ngồi trên cửa sổ ngủ gục. Vì ngủ quá say, anh đã từ tầng thứ ba té xuống; khi đỡ dậy thì anh đã chết. 10. Tuy nhiên Phao-lô đã xuống, nghiêng mình trên anh, ôm lấy anh và nói: “Đừng náo động, vì sự sống của anh ta vẫn còn trong anh ta!” 11. Sau đó Phao-lô đã quay lại, bẻ bánh, và ăn; bởi vì ông nói chuyện rất lâu cho đến sáng, rồi lên đường. 12. Sau đó người ta đưa cậu bé về nhà, nó vẫn còn sống, cho nên mọi người đều được an ủi không ít.

13. Tuy nhiên chúng tôi đã đi trước đến thuyền, rồi giong buồm đến A-sốt, là nơi chúng tôi sẽ đón Phao-lô; bởi vì ông định đi đường bộ nên mới sắp đặt như vậy. 14. Khi gặp ông tại A-sốt, chúng tôi đón ông, rồi chúng tôi đến Mi-ti-len. 15. Giong buồm từ đó, ngày hôm sau chúng tôi đến đối ngang của Chi-ô. Ngày kế tiếp, chúng tôi vượt qua Sa-mốt, và ngày hôm chúng tôi đến Mi-lê. 16. Vì Phao-lô đã quyết định chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, chứ không dừng lại để khỏi mất thì giờ tại A-sia, ông đi vội vàng để nếu có thể được thì sẽ hiện diện tại Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ Ngũ Tuần.

17. Sau đó, từ Mi-lê, ông đã sai người đến Ê-phê-sô để mời các trưởng lão trong Hội Thánh. 18. Khi họ đến, ông đã nói với họ: “Anh em biết rằng từ ngày đầu tiên tôi đến A-sia, tôi đã cư xử với anh em như thế nào suốt cả thời gian tôi ở với anh em. 19. Tôi đã phục vụ Chúa với tất cả sự khiêm nhường, với nhiều nước mắt, và nhiều thử thách do người Do Thái lập mưu hại tôi. 20. Tôi đã không giữ lại bất cứ điều gì có lợi cho anh em mà không tỏ cho anh em biết. Tôi đã giảng dạy cho anh em tại nơi công cộng và tại các tư gia; 21. đã nhiệt tâm khuyến cáo cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin nơi Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus. 22. Hãy xem, hiện nay tôi được Thánh Linh thúc giục đến Giê-ru-sa-lem, tôi không biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó; 23. ngoại trừ Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi. 24. Nhưng tôi không kể sự sống của mình là quý, miễn sao hoàn tất sứ mạng và chức vụ của tôi, mà tôi đã nhận lãnh nơi Chúa, là Đức Chúa Jesus, để công bố thật trọn vẹn về Phúc Âm ân điển của Đức Chúa Trời. 25. Bây giờ, tôi biết rằng tất cả anh em mà tôi đã rao giảng về vương quốc của Đức Chúa Trời, không một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. 26. Do đó, hôm nay tôi xác nhận với anh em rằng tôi vô tội về huyết của tất cả anh em. 27. Bởi vì tôi đã công bố toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời cho anh em, không giữ lại điều gì. 28. Anh em hãy giữ chính mình và luôn cả bầy chiên mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn dắt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết của Ngài. 29. Tôi biết rằng sau khi tôi rời khỏi, sẽ có muông sói dữ tợn vào giữa anh em, chúng không tiếc bầy. 30. Ngay từ giữa anh em, cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ. 31. Vì vậy, hãy tỉnh thức, và nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người. 32. Bây giờ, tôi ký thác anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo ân điển của Ngài, là đạo có thể xây dựng và ban cơ nghiệp cho anh em, ở giữa tất cả những người được thánh hóa. 33. Tôi không ham bạc, vàng, hay là quần áo của ai hết. 34. Chính các anh em biết các bàn tay nầy đã cung ứng những nhu cầu của tôi và của các bạn đồng lao của tôi. 35. Trong mọi sự, tôi đã bày tỏ cho anh em thấy rằng chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, cho nên chúng ta phải làm việc vất vả như vậy. Cũng hãy nhớ lại lời của Chúa, là Ðức Chúa Jesus, mà chính Ngài đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’”

36. Nói xong những lời nầy, ông đã quỳ trên gối của mình, rồi cầu nguyện với tất cả. 37. Mọi người đều khóc rất nhiều, ôm lấy cổ của Phao-lô, và họ hôn ông. 38. Họ đặc biệt đau buồn về lời mà ông nói rằng họ sẽ không bao giờ thấy mặt của ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

Bản Dịch 1925

1. Khi sự rối loạn yên rồi Phao-lô vời các môn đồ đến, khuyên bảo xong, thì từ giã mà đi đến xứ Ma-xê-đoan. 2. Người trải khắp trong miền này, dùng nhiều lời khuyên bảo các tín đồ; rồi tới nước Gờ-réc, 3. ở đó ba tháng. Lúc gần xuống thuyền qua xứ Sy-ri thì người Giu-đa lập kế hại người, nên người định trải qua xứ Ma-xê-đoan mà trở về. 4. Sô-ba-tê, con Bi-ru, quê thành Đê-rê, cùng đi với người, lại có A-ri-tạt và Xê-cun-đu quê thành Tê-sa-lô-ni-ca, Gai-út quê thành Đẹt-bơ và Ti-mô-thê; Ti-chi-cơ và Trô-phin đều quê ở cõi A-si. 5. Những người nầy đi trước, đợi chúng ta tại thành Trô-ách. 6. Còn chúng ta, khi những ngày ăn bánh không men qua rồi, thì xuống thuyền tại thành Phi-líp, trong năm ngày gặp nhau tại thành Trô-ách, rồi chúng ta ở lại đó bảy ngày.

7. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nửa đêm, 8. có nhiều đèn trong phòng cao mà chúng ta đang nhóm lại. 9. Một gã tuổi trẻ tên là Ơ-tích, ngồi trên cửa sổ, ngủ gục trong khi Phao-lô giảng rất dài; và bị ngủ mê quá, nên từ tầng lầu thứ ba té xuống, lúc đỡ dậy đã thấy chết rồi. 10. Nhưng, Phao-lô bước xuống, nghiêng mình trên người, ôm lấy mà nói rằng: Chớ bối rối, linh hồn còn ở trong người. 11. Phao-lô lại trở lên, bẻ bánh mà ăn; giảng luận lâu cho đến sáng mới đi. 12. Còn gã tuổi trẻ người ta đem đi thì được sống, sự ấy làm cho mọi người đều được yên ủi lắm.

13. Còn chúng ta, thì đi trước, chạy thuyền đến thành A-sốt, là nơi chúng ta phải gặp Phao-lô; người đã định vậy, vì muốn đi bộ. 14. Chúng ta gặp người tại thành A-sốt, bèn đem người đi với, cùng đến thành Mi-ti-len. 15. Rồi đi từ nơi đó, vẫn theo đường biển, ngày mai đến ngang đảo Chi-ô. Qua ngày sau, chúng ta ghé vào thành Sa-mốt, cách một ngày nữa, thì tới thành Mi-lê. 16. Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp ngày lễ Ngũ Tuần.

17. Bấy giờ, Phao-lô sai người ở thành Mi-lê đi tới thành Ê-phê-sô mời các trưởng lão trong Hội thánh đến. 18. Khi các người ấy đã nhóm cùng người, người nói rằng: từ ngày tôi mới đến cõi A-si, hằng ăn ở luôn với anh em cách nào, anh em vẫn biết, 19. tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi. 20. Anh em biết tôi chẳng trễ nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng dấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia, 21. giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta. 22. Kìa, nay bị Đức Thánh Linh ràng buộc, tôi đi đến thành Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều chi sẽ xảy đến cho tôi ở đó; 23. duy Đức Thánh Linh đã bảo trước cho tôi rằng từ thành nầy sang thành khác dây xích và hoạn nạn đang đợi tôi đó. 24. nhưng tôi chẳng kể sự sống mình là quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời.

25. Hiện bây giờ, tôi biết rằng giữa anh em mà tôi đã ghé qua giảng về nước Đức Chúa Trời, thì chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa. 26. Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt các anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy. 27. Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời. 28. Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. 29. Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu; 30. lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ. 31. Vậy, hãy tỉnh thức nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn. 32. Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh. 33. Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết. 34. Chính anh em biết rằng hai bàn tay nầy đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi. 35. Tôi từng bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh.

36. Phao-lô nói lời đó xong, bèn quì xuống và cầu nguyện với hết thảy các người ấy. 37. Ai nấy đều khóc lắm ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn, 38. lấy làm buồn bực nhất là vì nghe người nói rằng anh em sẽ chẳng thấy mặt mình nữa. Đoạn, đưa người xuống tàu.

Bản Dịch 2011

Phao-lô tại Ma-xê-đô-ni-a

1 Sau khi cuộc rối loạn đã yên, Phao-lô mời các môn đồ đến; sau khi nói những lời khuyên nhủ, ông từ giã họ, lên đường qua Ma-xê-đô-ni-a. 2 Ông đi qua các miền đó, dùng nhiều lời khuyên nhủ các tín hữu, rồi đến Hy-lạp, 3 và ở tại đó ba tháng. Vì người Do-thái đã lập mưu toan ám sát ông, nên khi sắp xuống tàu để về Sy-ri-a, ông đã quyết định đổi qua ngả Ma-xê-đô-ni-a để trở về.

4 Tháp tùng với ông có Sô-pa-tê con Pi-ru người Bê-rê, A-ri-tạc và Sê-cun-đu là hai người Thê-sa-lô-ni-ca, Gai-út người Ðẹc-bê, Ti-mô-thê, Ty-chi-cơ và Trô-phi-mu là hai người A-si-a. 5 Những người ấy đã đi trước và đợi chúng tôi ở Trô-ách. 6 Còn chúng tôi, sau những ngày của Lễ Bánh Không Men chúng tôi xuống tàu tại Phi-líp, và năm ngày sau chúng tôi đến Trô-ách và gặp lại họ; chúng tôi ở lại đó bảy ngày.

Phao-lô Giảng tại Trô-ách

7 Ngày thứ nhất trong tuần chúng tôi họp nhau lại để dự Lễ Bẻ Bánh. Phao-lô giảng dạy cho các tín hữu. Vì hôm sau ông phải ra đi, nên ông giảng lâu đến nửa đêm. 8 Có nhiều đèn trong phòng trên lầu, nơi chúng tôi nhóm lại. 9 Có một cậu thiếu niên kia tên là Êu-ty-cơ ngồi trên thành cửa sổ để nghe giảng. Trong khi Phao-lô giảng lâu, cậu ngủ gục; vì ngủ say quá, cậu té từ tầng lầu thứ ba xuống đất; khi người ta đỡ cậu dậy thì cậu đã chết rồi. 10 Phao-lô đi xuống, cúi xuống đỡ lấy cậu, ôm cậu vào lòng, và nói, “Ðừng bối rối, vì cháu còn sống.” 11 Ðoạn ông đi lên, dự Lễ Bẻ Bánh, và ăn với anh chị em. Sau đó ông tiếp tục nói chuyện với họ đến sáng, rồi ông ra đi. 12 Họ đưa cậu thiếu niên được sống lại ấy đi về, và họ được an ủi không ít.

Phao-lô Ghé Qua Mi-lê-tu

13 Chúng tôi xuống tàu và cho giăng buồm đến A-sốt, nơi chúng tôi dự tính sẽ đón Phao-lô, vì ông đã sắp xếp như vậy; ông muốn đi đường bộ một mình một chặng. 14 Khi chúng tôi gặp ông ở A-sốt, chúng tôi đón ông lên tàu và cùng đến Thành Mi-ty-len. 15 Chúng tôi rời đó, ngày hôm sau tàu chạy ngang qua Ðảo Chi-ô, ngày kế tiếp chúng tôi đến Ðảo Sa-mô, và ngày sau đó chúng tôi đến Mi-lê-tu. 16 Số là Phao-lô đã quyết định rằng chúng tôi chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, để ông khỏi mất thì giờ nhiều ở A-si-a, vì ông rất nóng lòng muốn trở về Giê-ru-sa-lem để, nếu có thể được, kịp dự Lễ Ngũ Tuần.

Phao-lô Giảng Từ Biệt tại Ê-phê-sô

17 Lúc ở tại Mi-lê-tu, Phao-lô cho người mang tin đến Ê-phê-sô mời các vị trưởng lão của hội thánh đến gặp ông. 18 Khi họ đến nơi, ông nói với họ:

“Thưa anh chị em, từ ngày đầu tiên tôi đặt chân đến A-si-a, tôi sống như thế nào, trong suốt thời gian đó, anh chị em đã biết rõ. 19 Tôi đã phục vụ Chúa với tất cả lòng khiêm nhường, nhiều khi phải đổ nước mắt, gặp bao nhiêu khó khăn thách thức do người Do-thái lập mưu hại tôi. 20 Tôi đã không giữ lại bất cứ điều gì có lợi cho anh chị em mà không tỏ cho anh chị em biết. Tôi đã giảng dạy cho anh chị em ở những nơi công cộng và tại các tư gia. 21 Tôi đã làm chứng cho người Do-thái lẫn người Hy-lạp biết rằng họ phải ăn năn, trở về cùng Ðức Chúa Trời, và phải tin thờ Ðức Chúa Jesus là Chúa chúng ta. 22 Giờ đây, được Ðức Thánh Linh trói buộc, tôi đang trên đường về Giê-ru-sa-lem và không biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó, 23 ngoại trừ Ðức Thánh Linh xác chứng cho tôi biết rằng, trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi. 24 Nhưng tôi chẳng coi mạng sống mình là quý, miễn sao tôi chạy xong chặng đường và hoàn tất chức vụ mà tôi đã nhận lãnh từ Ðức Chúa Jesus, để làm chứng về Tin Mừng của ân sủng Ðức Chúa Trời.

25 Giờ đây, tôi biết rằng tất cả anh chị em, những người tôi đã có dịp rao giảng về vương quốc, sẽ không gặp mặt tôi nữa. 26 Vì thế, hôm nay tôi tuyên bố với anh chị em rằng tôi đã hoàn tất trách nhiệm đối với huyết của tất cả anh chị em, 27 vì tôi đã không giữ lại điều gì, nhưng đã tiết lộ mọi ý chỉ của Ðức Chúa Trời cho anh chị em.

28 Anh chị em hãy giữ lấy chính mình và cả đàn chiên mà Ðức Thánh Linh đã lập anh chị em làm những người coi sóc. Hãy chăn giữ hội thánh của Ðức Chúa Trời, là hội mà Ngài đã mua bằng chính huyết Ngài.

29 Tôi biết rằng sau khi tôi đi, muông sói dữ tợn sẽ đến giữa anh chị em; chúng không tiếc bầy đâu. 30 Từ giữa anh chị em sẽ có những người dấy lên, nói những lời bẻ cong sự thật, để lôi kéo các môn đồ theo họ. 31 Vì vậy anh chị em hãy coi chừng. Hãy nhớ rằng trong ba năm, ngày đêm tôi không ngừng khuyên bảo mọi người, lắm khi phải đổ nước mắt. 32 Bây giờ tôi phó thác anh chị em cho Ðức Chúa Trời và cho Ðạo của ân sủng Ngài, là Ðạo có thể gây dựng anh chị em và ban cho anh chị em cơ nghiệp giữa mọi người được thánh hóa.

33 Tôi không ham bạc, vàng, hay áo quần của ai. 34 Anh chị em đã biết rõ rằng đôi tay này đã làm việc, để cung cấp nhu cầu của tôi và của những người đi với tôi. 35 Trong mọi sự, tôi đã bày tỏ cho anh chị em thấy rằng chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, do đó chúng ta phải làm việc vất vả như thế. Hãy nhớ lại lời của Ðức Chúa Jesus, mà chính Ngài đã phán, ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’”

36 Khi ông nói xong những lời ấy, ông quỳ xuống và cầu nguyện với mọi người có mặt tại đó. 37 Mọi người đều bật khóc thành tiếng, và họ ôm cổ Phao-lô mà hôn. 38 Họ buồn nhất là khi nghe ông nói rằng họ sẽ không gặp mặt ông nữa. Sau đó họ tiễn ông xuống tàu.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành