Giăng: Chương 4
Mục lục
Bản Dịch Việt Ngữ
Đức Chúa Jesus và người phụ nữ Sa-ma-ri
1. Khi Đức Chúa Jesus biết người Pha-ri-si nghe rằng Ngài thu nhận và làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng 2. - thật ra không phải chính Đức Chúa Jesus làm báp-têm, nhưng là các môn đồ của Ngài - 3. thì Ngài rời Giu-đê trở lại Ga-li-lê. 4. Lần nầy, Ngài cần đi ngang qua Sa-ma-ri. 5. Vì vậy, Ngài đã đến một thành của Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần cánh đồng mà Gia-cốp đã cho con trai của mình là Giô-sép. 6. Tại đó có cái giếng của Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jesus ngồi tại giếng. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
7. Một phụ nữ Sa-ma-ri ra múc nước. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Xin cho Ta uống.”
8. Lúc đó, các môn đồ của Ngài đã đi vào thành để mua thức ăn.
9. Vì vậy người phụ nữ Sa-ma-ri nói với Ngài: “Làm thế nào Ngài, là một người Do Thái, lại xin nước uống từ tôi, là một phụ nữ Sa-ma-ri?” - vì người Do Thái không giao tiếp với người Sa-ma-ri.
10. Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Nếu ngươi biết quà tặng của Đức Chúa Trời, và Người đang nói với ngươi ‘Hãy cho Ta uống’ là ai, thì ngươi sẽ xin Người, và Người sẽ cho ngươi nước sống.”
11. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Ngài không có đồ múc, mà giếng thì sâu, như vậy Ngài lấy đâu ra nước sống? 12. Không lẽ Ngài lớn hơn Gia-cốp, tổ phụ của chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng nầy hay sao? Chính người, các con trai của người, và gia súc của người đều uống từ giếng nầy.”
13. Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Ai uống nước nầy sẽ khát trở lại, 14. nhưng ai uống nước Ta sẽ ban cho người đó, thì không bao giờ khát nữa. Nhưng nước mà Ta ban cho người đó sẽ trở thành một mạch nước trong người đó, tuôn trào vào trong sự sống đời đời.”
15. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Xin cho tôi nước nầy, để tôi không còn khát, và không phải đến đây để múc nữa.”
16. Ngài bảo: “Hãy đi, gọi chồng của ngươi, rồi đến đây.”
17. Người phụ nữ trả lời và nói với Ngài: “Tôi không có chồng.”
Đức Chúa Jesus nói cùng bà: “Ngươi bảo rằng ngươi không có chồng là phải, 18. bởi vì ngươi đã có năm người chồng, còn người mà ngươi hiện có không phải là chồng của ngươi; điều nầy ngươi đã nói thật.”
19. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Tôi nhận biết Ngài là một tiên tri. 20. Các tổ phụ của chúng tôi đã thờ phượng trên núi nầy, còn quý vị thì nói rằng nơi cần thiết để thờ phượng là tại Giê-ru-sa-lem.”
21. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Hỡi người nữ! Hãy tin Ta! Sẽ đến thời điểm, các ngươi thờ phượng Cha không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem. 22. Các ngươi thờ phượng điều các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng điều chúng ta biết, bởi vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái. 23. Thời điểm đang đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha trong tâm linh và chân lý; đó là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm. 24. Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.”
25. Người phụ nữ thưa với Ngài: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a, được gọi là Đấng Christ, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng ta mọi điều.”
26. Đức Chúa Jesus phán với bà: “Ta, người đang nói với ngươi, chính là Đấng đó.”
27. Lúc đó, các môn đồ của Ngài đến và họ sững sờ về việc Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay “Vì sao Thầy nói chuyện với bà?”
28. Người phụ nữ đã bỏ vò nước của mình lại, đi vào thành, và nói với nhiều người: 29. “Hãy đến xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ hay sao?” 30. Họ ra khỏi thành và đến với Đức Chúa Jesus.
31. Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài rằng: “Thưa Thầy! Xin hãy ăn.”
32. Nhưng Ngài nói với họ: “Ta có lương thực để ăn mà các ngươi không biết.”
33. Vì vậy, các môn đồ nói với nhau: “Không lẽ có ai đã đem gì cho Ngài ăn?”
34. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Lương thực của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, và hoàn tất công việc của Ngài. 35. Không phải các ngươi nói rằng: ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt hay sao?’ Kìa, Ta nói cùng các ngươi: ‘Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng, sẵn sàng cho mùa gặt. 36. Người gặt nhận tiền công và thu hoạch hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’ 37. Về điều nầy, có câu nói rất đúng: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt.’ 38. Ta đã sai các ngươi gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các ngươi thì tham gia vào công khó của họ.”
39. Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì người phụ nữ làm chứng rằng: “Ngài đã nói cho tôi tất cả những điều tôi đã làm.” 40. Vì vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. 41. Và rồi, nhờ lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa. 42. Họ đã nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những lời bà nói mà chúng tôi tin, bởi vì chính chúng tôi đã nghe, và biết rằng người nầy thật là Đấng Giải Cứu thế gian.”
Đức Chúa Jesus chữa lành con trai một viên quan thuộc hoàng tộc
43. Hai ngày sau, từ nơi đó Ngài đi vào Ga-li-lê. 44. Bởi vì chính Đức Chúa Jesus đã xác nhận rằng tiên tri không được tôn trọng tại thành phố quê hương của mình. 45. Do đó khi Ngài đến Ga-li-lê, những người Ga-li-lê đã tiếp nhận Ngài, bởi họ đã chứng kiến tất cả những việc diệu kỳ Ngài đã làm tại Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, vì chính họ cũng đi dự lễ.
46. Vì vậy, Ngài trở lại Ca-na thuộc Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng tộc có một người con trai bị bệnh tại Ca-bê-na-um. 47. Ông nghe rằng Đức Chúa Jesus đã rời Giu-đê đến Ga-li-lê, nên đã đến với Ngài, và xin Ngài xuống chữa cho con của ông, bởi vì nó sắp chết. 48. Đức Chúa Jesus nói với ông rằng: “Nếu người ta không thấy những dấu lạ và những việc diệu kỳ, thì các ngươi không tin!”
49. Viên quan thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa! Xin hãy xuống trước khi con tôi chết.”
50. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Hãy đi! Con trai của ngươi sống.”
Người đàn ông đã tin lời Đức Chúa Jesus nói với ông, nên đã đi. 51. Khi ông đang đi xuống, những đầy tớ của ông đã gặp ông và nói rằng: “Con trai của ông sống!” 52. Vì vậy, ông đã hỏi họ con của ông đã khỏe hơn vào giờ nào. Họ nói với ông: “Hôm qua, vào giờ thứ bảy, cậu hết sốt.” 53. Vì vậy người cha biết rằng đó chính là giờ mà Đức Chúa Jesus đã bảo ông rằng: “Con của ngươi sống”; cho nên chính ông và cả nhà đều tin.
54. Đây là dấu lạ thứ hai mà Đức Chúa Jesus đã làm, sau khi Ngài rời Giu-đê về Ga-li-lê.
Bản Dịch Đại Chúng
Đức Chúa Jesus và người phụ nữ Sa-ma-ri
Khi Đức Chúa Jesus biết người Pha-ri-si nghe rằng Ngài thu nhận và làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng - thật ra không phải chính Đức Chúa Jesus làm báp-têm, nhưng là các môn đồ của Ngài - thì Ngài rời Giu-đê trở lại Ga-li-lê. Lần nầy Ngài cần đi ngang qua Sa-ma-ri. Vì vậy, Ngài đã đến một thành của Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần cánh đồng mà Gia-cốp đã cho con trai của mình là Giô-sép. Tại đó có cái giếng của Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jesus ngồi tại giếng. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một phụ nữ Sa-ma-ri ra múc nước. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Xin cho Ta uống.”
Lúc đó, các môn đồ của Ngài đã đi vào thành để mua thức ăn.
Vì vậy người phụ nữ Sa-ma-ri nói với Ngài: “Làm thế nào Ngài là một người Do Thái, lại xin nước uống từ tôi là một phụ nữ Sa-ma-ri?” - vì người Do Thái không giao tiếp với người Sa-ma-ri.
Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Nếu ngươi biết quà tặng của Đức Chúa Trời, và Người đang nói với ngươi ‘Hãy cho Ta uống’ là ai, thì ngươi sẽ xin Người, và Người sẽ cho ngươi nước sống.”
Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Ngài không có đồ múc, mà giếng thì sâu, như vậy Ngài lấy đâu ra nước sống? Không lẽ Ngài lớn hơn Gia-cốp, tổ phụ của chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng nầy hay sao? Chính người, các con trai của người, và gia súc của người đều uống từ giếng nầy.”
Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Ai uống nước nầy sẽ khát trở lại, nhưng ai uống nước Ta sẽ ban cho người đó, thì không bao giờ khát nữa. Nhưng nước mà Ta ban cho người đó sẽ trở thành một mạch nước trong người đó, tuôn trào vào trong sự sống đời đời.”
Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Xin cho tôi nước nầy, để tôi không còn khát, và không phải đến đây để múc nữa.”
Ngài bảo: “Hãy đi, gọi chồng của ngươi, rồi đến đây.”
Người phụ nữ trả lời và nói với Ngài: “Tôi không có chồng.”
Đức Chúa Jesus nói cùng bà: “Ngươi bảo rằng ngươi không có chồng là phải, bởi vì ngươi đã có năm người chồng, còn người mà ngươi hiện có không phải là chồng của ngươi; điều nầy ngươi đã nói thật.”
Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Tôi nhận biết Ngài là một tiên tri. Các tổ phụ của chúng tôi đã thờ phượng trên núi nầy, còn quý vị thì nói rằng nơi cần thiết để thờ phượng là tại Giê-ru-sa-lem.”
Đức Chúa Jesus nói với bà: “Hỡi người nữ! Hãy tin Ta! Sẽ đến thời điểm, các ngươi thờ phượng Cha không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem. Các ngươi thờ phượng điều các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng điều chúng ta biết, bởi vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái. Thời điểm đang đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha trong tâm linh và chân lý; đó là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm. Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.”
Người phụ nữ thưa với Ngài: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a, được gọi là Đấng Christ, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng ta mọi điều.”
Đức Chúa Jesus phán với bà: “Ta, người đang nói với ngươi, chính là Đấng đó.”
Lúc đó, các môn đồ của Ngài đến và họ sững sờ về việc Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay “Vì sao Thầy nói chuyện với bà?”
Người phụ nữ đã bỏ vò nước của mình lại, đi vào thành, và nói với nhiều người: “Hãy đến xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ hay sao?” Họ ra khỏi thành và đến với Đức Chúa Jesus.
Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài rằng: “Thưa Thầy! Xin hãy ăn.”
Nhưng Ngài nói với họ: “Ta có lương thực để ăn mà các ngươi không biết.”
Vì vậy, các môn đồ nói với nhau: “Không lẽ có ai đã đem gì cho Ngài ăn?”
Đức Chúa Jesus nói với họ: “Lương thực của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, và hoàn tất công việc của Ngài. Không phải các ngươi nói rằng: ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt hay sao?’ Kìa, Ta nói cùng các ngươi: ‘Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng, sẵn sàng cho mùa gặt. Người gặt nhận tiền công và thu hoạch hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’ Về điều nầy, có câu nói rất đúng: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt.’ Ta đã sai các ngươi gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các ngươi thì tham gia vào công khó của họ.”
Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì người phụ nữ làm chứng rằng: “Ngài đã nói cho tôi tất cả những điều tôi đã làm.” Vì vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. Và rồi, nhờ lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa. Họ đã nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những lời bà nói mà chúng tôi tin, bởi vì chính chúng tôi đã nghe, và biết rằng người nầy thật là Đấng Giải Cứu thế gian.”
Đức Chúa Jesus chữa lành con trai một viên quan thuộc hoàng tộc
Hai ngày sau, từ nơi đó Ngài đi vào Ga-li-lê. Bởi vì chính Đức Chúa Jesus đã xác nhận rằng tiên tri không được tôn trọng tại thành phố quê hương của mình. Do đó khi Ngài đến Ga-li-lê, những người Ga-li-lê đã tiếp nhận Ngài, bởi họ đã chứng kiến tất cả những việc diệu kỳ Ngài đã làm tại Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, vì chính họ cũng đi dự lễ.
Vì vậy, Ngài trở lại Ca-na thuộc Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng tộc có một người con trai bị bệnh tại Ca-bê-na-um. Ông nghe rằng Đức Chúa Jesus đã rời Giu-đê đến Ga-li-lê, nên đã đến với Ngài, và xin Ngài xuống chữa cho con của ông, bởi vì nó sắp chết.
Đức Chúa Jesus nói với ông rằng: “Nếu người ta không thấy những dấu lạ và những việc diệu kỳ, thì các ngươi không tin!”
Viên quan thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa! Xin hãy xuống trước khi con tôi chết.”
Đức Chúa Jesus nói với ông: “Hãy đi! Con trai của ngươi sống.”
Người đàn ông đã tin lời Đức Chúa Jesus nói với ông, nên đã đi. Khi ông đang đi xuống, những đầy tớ của ông đã gặp ông và nói rằng: “Con trai của ông sống!” Vì vậy, ông đã hỏi họ con của ông đã khỏe hơn vào giờ nào. Họ nói với ông: “Hôm qua, vào giờ thứ bảy, cậu hết sốt.” Vì vậy người cha biết rằng đó chính là giờ mà Đức Chúa Jesus đã bảo ông rằng: “Con của ngươi sống”; cho nên chính ông và cả nhà đều tin.
Đây là dấu lạ thứ hai mà Đức Chúa Jesus đã làm, sau khi Ngài rời Giu-đê về Ga-li-lê.
Bản Dịch Ngữ Căn
1. Khi Đức Chúa Jesus biết người Pha-ri-si nghe rằng Ngài thu nhận và làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng 2. - thật ra không phải chính Đức Chúa Jesus làm báp-têm, nhưng là các môn đồ của Ngài - 3. thì Ngài rời Giu-đê trở lại Ga-li-lê. 4. Lần nầy, Ngài cần đi ngang qua Sa-ma-ri. 5. Vì vậy, Ngài đã đến một thành của Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần cánh đồng mà Gia-cốp đã cho con trai của mình là Giô-sép. 6. Tại đó có cái giếng của Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jesus ngồi bên giếng. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
7. Một phụ nữ Sa-ma-ri ra múc nước. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Xin cho Ta uống.” 8. Lúc đó, các môn đồ của Ngài đã đi vào thành để mua thức ăn. 9. Vì vậy người phụ nữ Sa-ma-ri nói với Ngài: “Làm thế nào Ngài, một người Do Thái, lại xin uống từ tôi, là một phụ nữ Sa-ma-ri?” - vì người Do Thái không giao tiếp với người Sa-ma-ri - 10. Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Nếu ngươi biết quà tặng của Đức Chúa Trời, và Người đang nói với ngươi: ‘Hãy cho Ta uống’ là ai, thì ngươi sẽ xin Người, và Người sẽ cho ngươi nước sống.” 11. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Ngài không có đồ múc, mà giếng thì sâu, như vậy Ngài lấy đâu ra nước sống? 12. Không lẽ Ngài lớn hơn Gia-cốp, tổ phụ của chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng nầy sao? Chính người, các con trai của người, và gia súc của người đều uống từ giếng nầy.” 13. Đức Chúa Jesus trả lời và nói với bà: “Ai uống nước nầy sẽ khát trở lại, 14. nhưng ai uống nước mà Ta sẽ ban cho người đó, thì không bao giờ khát nữa. Nhưng nước Ta ban cho người đó sẽ trở thành một mạch nước trong người đó, tuôn trào vào trong sự sống đời đời.”
15. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Xin cho tôi nước nầy, để tôi không còn khát, và không phải đến đây để múc nữa.”
16. Ngài bảo: “Hãy đi, gọi chồng của ngươi, rồi đến đây.” 17. Người phụ nữ trả lời và nói với Ngài: “Tôi không có chồng.” Đức Chúa Jesus nói cùng bà: “Ngươi bảo rằng ngươi không có chồng là phải, 18. bởi vì ngươi đã có năm người chồng, còn người mà ngươi hiện có không phải là chồng của ngươi; điều nầy ngươi đã nói thật.” 19. Người phụ nữ nói với Ngài: “Thưa Chúa! Tôi nhận biết Ngài là một tiên tri. 20. Các tổ phụ của chúng tôi đã thờ phượng trên núi nầy, còn quý vị thì nói rằng nơi cần thiết để thờ phượng là tại Giê-ru-sa-lem.” 21. Đức Chúa Jesus nói với bà: “Hỡi người nữ! Hãy tin Ta! Sẽ đến thời điểm, các ngươi thờ phượng Cha không phải trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem. 22. Các ngươi thờ phượng điều các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng điều chúng ta biết, bởi vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái. 23. Thời điểm đang đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha trong tâm linh và chân lý; đó là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm. 24. Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.” 25. Người phụ nữ thưa với Ngài: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a, được gọi là Đấng Christ, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng ta mọi điều.” 26. Đức Chúa Jesus phán với bà: “Ta, người đang nói với ngươi, chính là Đấng đó.”
27. Lúc đó, các môn đồ của Ngài đến và họ sững sờ về việc Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay “Vì sao Thầy nói chuyện với bà?”
28. Người phụ nữ đã bỏ vò nước của mình lại, đi vào thành, và nói với nhiều người: 29. “Hãy đến xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ sao?” 30. Họ ra khỏi thành và đến với Đức Chúa Jesus.
31. Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài rằng: “Thưa Thầy! Xin hãy ăn.” 32. Nhưng Ngài nói với họ: “Ta có lương thực để ăn mà các ngươi không biết.” 33. Vì vậy, các môn đồ nói với nhau: “Không lẽ có ai đã đem gì cho Ngài ăn?” 34. Đức Chúa Jesus nói với họ: “Lương thực của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, và hoàn tất công việc của Ngài. 35. Không phải các ngươi nói rằng: ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt sao?’ Kìa, Ta nói cùng các ngươi: ‘Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng sẵn sàng cho mùa gặt. 36. Người gặt nhận tiền công và thu hoạch hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’ 37. Về điều nầy, có câu nói rất đúng: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt.’ 38. Ta đã sai các ngươi gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các ngươi thì tham gia vào công khó của họ.”
39. Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì người phụ nữ làm chứng rằng: “Ngài đã nói cho tôi tất cả những điều tôi đã làm.” 40. Vì vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. 41. Và rồi, nhờ lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa. 42. Họ nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những lời bà nói mà chúng tôi tin, bởi vì chính chúng tôi đã nghe, và biết rằng người nầy thật là Đấng Giải Cứu thế gian.”
43. Hai ngày sau, từ nơi đó Ngài đi vào Ga-li-lê. 44. Bởi vì chính Đức Chúa Jesus đã xác nhận rằng tiên tri không được tôn trọng tại thành phố quê hương của mình. 45. Do đó khi Ngài đến Ga-li-lê, những người Ga-li-lê đã tiếp nhận Ngài, bởi họ đã chứng kiến tất cả những việc diệu kỳ Ngài đã làm tại Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, vì chính họ cũng đi dự lễ.
46. Vì vậy, Ngài trở lại Ca-na thuộc Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng tộc có một người con trai bị bệnh tại Ca-bê-na-um. 47. Ông nghe rằng Đức Chúa Jesus đã rời Giu-đê đến Ga-li-lê, nên đã đến với Ngài, và xin Ngài xuống chữa cho con của ông, bởi vì nó sắp chết. 48. Đức Chúa Jesus nói với ông rằng: “Nếu người ta không thấy những dấu lạ và những việc diệu kỳ, thì các ngươi không tin!” 49. Viên quan thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa! Xin hãy xuống trước khi con tôi chết.” 50. Đức Chúa Jesus nói với ông: “Hãy đi! Con trai của ngươi sống.” Người đàn ông đã tin lời Đức Chúa Jesus nói với ông, nên đã đi. 51. Khi ông đang đi xuống, những đầy tớ của ông đã gặp ông và nói rằng: “Con trai của ông sống!” 52. Vì vậy, ông đã hỏi họ con của ông đã khỏe hơn vào giờ nào. Họ nói với ông: “Hôm qua, vào giờ thứ bảy, cậu hết sốt.” 53. Vì vậy người cha biết rằng đó chính là giờ mà Đức Chúa Jesus đã bảo ông rằng: “Con của ngươi sống”; cho nên chính ông và cả nhà đều tin. 54. Đây là dấu lạ thứ hai mà Đức Chúa Jesus đã làm, sau khi Ngài rời Giu-đê về Ga-li-lê.
Bản Dịch 1925
1. Khi Chúa đã hay rằng người Pha-ri-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp tem được nhiều môn đồ hơn Giăng, 2. (kỳ thiệt không phải chính Đức Chúa Jêsus làm phép báp tem, nhưng là môn đồ Ngài), 3. thì Ngài lìa xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
4. Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. 5. Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần đồng ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình. 6. Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Nhân đi đường mỏi mệt, Đức Chúa Jêsus ngồi gần bên giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu.
7. Một người đàn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống. 8. Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ ăn.
9. Người đàn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.)
10. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.
11. Người đàn bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy? 12. Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?
13. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; 14. nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời.
15. Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.
16. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây.
17. Người đàn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm; 18. vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy.
19. Người đàn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri. 20. Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem.
21. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 22. Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến. 23. Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. 24. Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.
25. Người đàn bà thưa: Tôi biết rằng Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.
26. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.
27. Khi đó, môn đồ tới, đều sững sờ về Ngài nói với một người đàn bà; nhưng chẳng ai hỏi rằng: Thầy hỏi người ấy điều chi? hay là: Sao thầy nói với người?
28. Người đàn bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng: 29. Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao? 30. Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jêsus.
31. Song le, môn đồ nài nỉ một bên Ngài mà rằng: Thưa thầy, xin hãy ăn.
32. Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết.
33. Vậy môn đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi cho thầy ăn chăng?
34. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài. 35. Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt. 36. Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui vẻ. 37. Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải. 38. Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm; kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công lao của họ.
39. Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cớ lời đàn bà đã làm chứng về Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm. 40. Vậy, các người Sa-ma-ri đã đến cùng Ngài, xin Ngài vào trọ nơi mình; Ngài bèn ở lại đó hai ngày. 41. Khi đã nghe lời Ngài rồi, người tin Ngài càng đông hơn nữa.
42. Họ nói với người đàn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian.
43. Khỏi hai ngày ấy, Đức Chúa Jêsus từ đó đi qua xứ Ga-li-lê 44. (vì chính Ngài đã phán rằng một người tiên tri chẳng bao giờ được tôn kính trong quê hương mình). 45. Khi đã đến xứ Ga-li-lê, Ngài được dân xứ ấy tiếp rước tử tế, bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ; vì họ cũng có đi dự lễ.
46. Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên ở tại thành Ca-bê-na-um, có một quan thị vệ kia, con trai người mắc bịnh. 47. Quan đó nghe Đức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến và xin Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết.
48. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!
49. Quan thị vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi con tôi chưa chết!
50. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi sống. Người đó tin lời Đức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi. 51. Người đang đi dọc đường, các đầy tớ người đến đón mà rằng: Con trai chủ sống. 52. Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ trả lời rằng: bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi.
53. Người cha nhận biết rằng ấy là chính giờ đó Đức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng: Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin.
54. Ấy là phép lạ thứ hai mà Đức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
Bản Dịch 2011
Chúa Nói Chuyện với Một Phụ Nữ Sa-ma-ri
1 Khi Ðức Chúa Jesus biết rằng người Pha-ri-si đã nghe đồn rằng Ðức Chúa Jesus đã thu nhận môn đồ và làm báp-têm nhiều người hơn Giăng, 2 (thật ra, không phải chính Ðức Chúa Jesus đã làm báp-têm, nhưng các môn đồ Ngài làm), 3 Ngài rời miền Giu-đê và trở lại miền Ga-li-lê. 4 Ngài cần phải đi qua miền Sa-ma-ri. 5 Ngài đến một thành trong miền Sa-ma-ri tên là Si-kha, gần cánh đồng Gia-cốp đã cho Giô-sép con trai ông. 6 Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Ðức Chúa Jesus ngồi nghỉ bên giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Một bà người Sa-ma-ri đi ra lấy nước. Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Xin cho Ta uống ít nước.” 8 Lúc đó các môn đồ Ngài đã vào trong thành để mua thức ăn.
9 Người đàn bà Sa-ma-ri trả lời Ngài, “Làm sao ông, một người Do-thái, lại hỏi tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, để xin nước uống?” (Số là người Do-thái không giao thiệp với người Sa-ma-ri).
10 Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Nếu bà biết tặng phẩm của Ðức Chúa Trời và biết người nói với bà, ‘Xin cho Ta uống ít nước’ là ai, có lẽ bà sẽ hỏi Người ấy, và Người ấy sẽ cho bà nước hằng sống.”
11 Bà ấy nói với Ngài, “Thưa ông, ông không có gàu, còn giếng thì sâu. Vậy ông lấy đâu ra được nước hằng sống ấy? 12 Không lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cốp của chúng tôi, người đã để lại cho chúng tôi giếng này, mà chính ông ta, con cháu ông ta, và các bầy súc vật của ông ta đã uống sao?”
13 Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Ai uống nước này sẽ khát lại, 14 nhưng ai uống nước Ta cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người ấy tuôn ra đến sự sống đời đời.”
15 Người đàn bà nói với Ngài, “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi sẽ không khát và khỏi đến đây lấy nước nữa.”
16 Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Hãy đi, gọi chồng bà đến đây.”
17 Người đàn bà trả lời và nói, “Tôi không có chồng.”
Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Bà nói, ‘Tôi không có chồng’ là đúng lắm, 18 vì bà đã có năm đời chồng, còn người bà hiện đang chung sống không phải là chồng bà. Ðiều này bà nói thật đúng.”
19 Người đàn bà nói với Ngài, “Thưa ông, tôi nhận thấy rằng ông là một đấng tiên tri. 20 Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi này, còn quý ông lại bảo Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải đến thờ phượng.”
21 Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Này bà, hãy tin Ta, giờ đến khi các ngươi sẽ thờ phượng Cha không trên núi này và cũng không tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các ngươi thờ phượng Ðấng các ngươi không biết. Chúng ta thờ phượng Ðấng chúng ta biết, vì ơn cứu rỗi đến từ người Do-thái. 23 Nhưng giờ đến và bây giờ đã đến, khi những người thờ phượng thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh và sự chân thật, vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng Ngài như vậy. 24 Ðức Chúa Trời là thần linh, nên ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và sự chân thật.”
25 Người đàn bà nói với Ngài, “Tôi biết rằng Ðấng Mê-si-a, cũng gọi là Ðấng Christ, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ báo cho chúng ta mọi sự.”
26 Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Ta, người đang nói với ngươi, chính là Ðấng ấy.”
27 Vừa lúc đó các môn đồ Ngài trở lại, họ ngạc nhiên vì thấy Ngài nói chuyện với một phụ nữ, nhưng không ai hỏi Ngài, “Thầy cần gì?” hoặc “Tại sao Thầy nói chuyện với bà ấy?”
28 Người đàn bà để vò nước lại bên giếng, trở vào thành, và nói với mọi người, 29 “Hãy đến xem, một người đã nói với tôi mọi điều tôi đã làm. Người ấy chẳng phải là Ðấng Christ sao?” 30 Dân từ trong thành túa ra và đến với Ngài.
31 Trong khi ấy các môn đồ cứ mời Ngài, “Thưa Thầy, xin Thầy dùng một ít thức ăn.”
32 Nhưng Ngài trả lời họ, “Ta có thứ thức ăn mà các ngươi không biết.”
33 Vậy các môn đồ Ngài nói với nhau, “Không lẽ có ai đã đem thức ăn mời Thầy dùng rồi sao?”
34 Ðức Chúa Jesus nói với họ, “Thức ăn của Ta là làm theo ý muốn của Ðấng đã sai Ta và hoàn tất công việc của Ngài. 35 Các ngươi chẳng nói rằng, ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt’ sao? Này, Ta nói với các ngươi, hãy ngước mắt lên và nhìn vào cánh đồng. Kìa đồng lúa đã chín vàng, sẵn sàng để được gặt. 36 Người đi gặt lãnh tiền công và thu hoa lợi vào sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn kẻ gặt đều vui mừng. 37 Rồi đây câu tục ngữ ‘Người này gieo, kẻ khác gặt’ là đúng. 38 Ta sai các ngươi đến gặt nơi các ngươi không tốn công sức làm việc. Người khác đã lao động vất vả, và các ngươi vào gặt lấy công lao của họ.”
39 Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài vì lời chứng của người đàn bà, “Người ấy đã nói với tôi mọi điều tôi đã làm.”
40 Vì thế khi những người Sa-ma-ri đến với Ngài, họ mời Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. 41 Có đông người nữa tin Ngài vì được nghe lời Ngài. 42 Họ nói với người đàn bà, “Bây giờ chúng tôi tin, không phải vì lời của chị, nhưng vì chính chúng tôi đã được nghe Ngài, và chúng tôi biết rằng người này đúng là Ðấng Giải Cứu của thế gian.”
Chúa Trở Về Ga-li-lê
43 Sau hai ngày Ngài rời nơi đó để về Ga-li-lê. 44 Số là chính Ðức Chúa Jesus đã xác nhận rằng đấng tiên tri không được tôn trọng trong quê hương mình. 45 Nhưng khi Ngài về đến Ga-li-lê, người Ga-li-lê ra đón Ngài niềm nở, bởi họ đã thấy những việc Ngài làm tại Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ, vì họ cũng đã đi dự lễ.
Chúa Chữa Lành Con Một Vị Quan
46 Sau đó Ngài trở lại Ca-na trong miền Ga-li-lê, nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Tại đó có một vị quan của triều đình; ông ấy có cậu con trai bị bịnh, đang nằm dưỡng bịnh tại Ca-bê-na-um. 47 Khi ông nghe Ðức Chúa Jesus đã rời Giu-đê để về Ga-li-lê, ông đi đón Ngài và khẩn khoản mời Ngài xuống chữa bịnh cho con ông, vì nó sắp chết.
48 Ðức Chúa Jesus nói với ông, “Nếu các ngươi không thấy các dấu kỳ và phép lạ, chắc các ngươi sẽ chẳng tin đâu.”
49 Quan ấy thưa với Ngài, “Lạy Thầy, xin Thầy vui lòng đến trước khi con tôi qua đời.”
50 Ðức Chúa Jesus nói với ông, “Ngươi về đi; con ngươi sẽ sống.”
Người ấy tin lời Ðức Chúa Jesus nói với mình, ông lên đường trở về. 51 Trong khi ông còn đi đường, các tôi tớ của ông đến đón và nói, “Con của chủ sống.”
52 Ông hỏi họ đứa trẻ đã khỏe lại vào giờ nào. Họ trả lời, “Hôm qua, vào lúc một giờ chiều cơn sốt đã lìa cậu ấy.” 53 Người cha nhận biết rằng chính giờ đó Ðức Chúa Jesus đã nói với ông, “Con ngươi sẽ sống.” Do đó chính ông và cả nhà ông đều tin.
54 Ðây là phép lạ thứ hai Ðức Chúa Jesus đã làm khi Ngài từ miền Giu-đê trở về miền Ga-li-lê.
Tài Liệu
- Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
- Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
- Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
- Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
- Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành