II Sử Ký: Chương 24

Từ Thư Viện Tin Lành
(đổi hướng từ KTB14C024)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Giô-ách được bảy tuổi khi người lên làm vua; người cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Xi-bia, quê ở Bê-e-Sê-ba. 2. Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. 3. Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách; người sanh được những con trai và con gái.

4. Sau việc này, Giô-ách có ý tu bổ đền của Đức Giê-hô-va, 5. bèn nhóm những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà bảo rằng: Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thâu lấy tiền bạc của cả Y-sơ-ra-ên, để hằng năm tu bổ lại cái đền của Đức Chúa Trời các ngươi; khá làm việc này cho mau. Song người Lê-vi trì hoãn. 6. Vua vời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa, mà bảo rằng: Cớ sao ngươi không có buộc những người Lê-vi từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đem nộp bạc thuế, mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã định cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải dâng cho trại chứng cớ? 7. Vì A-tha-li, người nữ độc ác kia, và các con trai nàng đã phá hủy đền của Đức Chúa Trời; và chúng nó đã dâng các vật thánh của đền Đức Giê-hô-va cho thần Ba-anh.

8. Vua bèn truyền dạy người ta đóng một cái hòm, để phía ngoài cửa đền Đức Giê-hô-va. 9. Rồi người ta rao cho khắp xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem ai nấy phải đem dâng cho Đức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, đã định về Y-sơ-ra-ên tại trong đồng vắng. 10. Hết thảy các quan trưởng và cả dân sự đều vui mừng, đem bạc đến bỏ vào trong hòm cho đến đầy. 11. Khi người Lê-vi thấy trong hòm đựng nhiều bạc, bèn đem nó lên giao cho vua kiểm soát; thơ ký vua và người của thầy tế lễ thượng phẩm đều đến trút hòm ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi ngày họ làm như vậy, và thâu được rất nhiều bạc. 12. Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc công việc trong đền Đức Giê-hô-va; họ mướn thợ đẽo đá, và thợ mộc, đặng tu bổ đền Đức Giê-hô-va; cũng mướn những thợ sắt và thợ đồng đặng sửa lại đền Đức Giê-hô-va. 13. Vậy, các thợ làm công việc, và nhờ tay họ việc tu bổ được thành; chúng làm lại đền của Đức Chúa Trời như cũ, và làm cho vững chắc. 14. Khi đã làm xong, chúng bèn đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa; người ta dùng bạc ấy làm những đồ lễ về đền Đức Giê-hô-va, tức những đồ dùng về việc phụng sự, và về cuộc tế lễ, những chén, và những khí dụng bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng dâng của lễ thiêu tại đền của Đức Giê-hô-va luôn luôn.

15. Vả, Giê-hô-gia-đa đã trở về già tuổi rất cao, rồi qua đời; lúc người thác, được một trăm ba mươi tuổi. 16. Người ta chôn người tại trong thành Đa-vít chung với các vua, vì người có công lao trong Y-sơ-ra-ên, có hầu việc Đức Chúa Trời, và tu bổ đền của Ngài.

17. Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn nghe theo lời của chúng, 18. lìa bỏ đền Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần A-sê-ra và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy, bèn có cơn giận của Chúa nghịch cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 19. Đức Giê-hô-va sai các đấng tiên tri đến cùng chúng, để dắt chúng trở lại cùng Đức Giê-hô-va; nhưng chúng không chịu nghe. 20. Thần của Đức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri, con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy trước mặt dân sự, mà nói rằng: Đức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn được, vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi. 21. Chúng bèn phản nghịch với người, và theo lịnh vua ném đá người tại trong hành lang của đền Đức Giê-hô-va. 22. Ấy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai người đi; khi người chết thì có nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo lại cho!

23. Xảy khi đến cuối năm, thì đạo binh Sy-ri kéo lên hãm đánh Giô-ách; chúng nó loán đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết các quan trưởng của dân, rồi gởi hết những của cướp về cho vua tại Đa-mách. 24. Đạo binh Sy-ri kéo đến có ít người, Đức Giê-hô-va lại phó một đạo binh rất đông vào tay chúng nó, bởi vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, dân Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.

25. Khi chúng đã bỏ đi rồi (vả chúng để người ở lại bị đau nặng), các đầy tớ người bèn phản nghịch cùng người, vì cớ huyết của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giết người tại trên giường, và người chết; người ta chôn người tại trong thành Đa-vít, song không phải trong mồ các vua. 26. Nầy là những kẻ dấy nghịch cùng người: Xa-bát, con trai của Si-mê-át, là đàn bà Am-môn, và Giô-xa-bát, con trai Sim-rít, là đàn bà Mô-áp. 27. Còn về việc các con trai người, số cống thuế người phải nộp, và cuộc tu bổ đền của Đức Giê-hô-va, thảy đều chép trong sách truyện các vua. A-ma-xia, con trai người, cai trị thế cho người.

Bản Dịch 2011

Giô-ách Trùng Tu Ðền Thờ

(2 Vua 12:1-16)

1 Giô-ách được bảy tuổi khi lên ngôi làm vua. Ông trị vì bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên là Xi-bi-a quê ở Bê-e Sê-ba. 2 Giô-ách làm điều tốt trước mặt CHÚA suốt những ngày Tư Tế Giê-hô-gia-đa còn sống. 3 Giê-hô-gia-đa cưới cho ông hai vợ, và ông sinh được các con trai và các con gái.

4 Sau đó ít lâu Giô-ách quyết chí trùng tu Ðền Thờ CHÚA. 5 Ông triệu tập các tư tế và những người Lê-vi lại, rồi nói với họ, “Hãy đi ra các thành của Giu-đa và quyên góp tiền dâng hằng năm của toàn dân I-sơ-ra-ên, rồi đem về trùng tu Ðền Thờ Ðức Chúa Trời. Các ông hãy mau thực hiện việc này.” Nhưng người Lê-vi cứ rề rà không chịu ra đi. 6 Vì thế vua gọi Giê-hô-gia-đa, người lãnh đạo của họ, đến và nói với ông ấy, “Tại sao ngài không yêu cầu người Lê-vi đi ra khắp nước Giu-đa và Thành Giê-ru-sa-lem nhận lấy sự đóng góp của dân, rồi đem về chi dụng cho Ðền Thờ, như Môi-se tôi tớ của CHÚA và hội chúng I-sơ-ra-ên đã làm cho Lều Chứng Cớ?”

7 Số là các đệ tử của người đàn bà gian ác A-tha-li-a đã phá hoại Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời, thậm chí chúng đã lấy tất cả các vật thánh được dâng hiến, ở trong Ðền Thờ CHÚA, đem để trong đền thờ của Thần Ba-anh. 8 Vì vậy vua truyền làm một cái thùng tiền dâng và để thùng ấy bên ngoài cổng đi vào Ðền Thờ CHÚA. 9 Sau đó họ thông báo khắp nước Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem rằng: Xin mọi người đem đến dâng lên CHÚA những gì Môi-se tôi tớ của Ðức Chúa Trời đã quy định cho dân I-sơ-ra-ên phải làm khi họ còn ở trong đồng hoang. 10 Tất cả các thủ lãnh và toàn dân đều hoan hỉ đem phần dâng hiến của mình đến bỏ vào thùng đó cho đến khi thùng đầy. 11 Khi thùng đã đầy, những người Lê-vi mang thùng ấy đến các viên chức của vua. Quan thư ký của vua và vị phụ tá của thượng tế đến, đổ tiền ra, đếm nhận, và mang thùng tiền để lại chỗ cũ. Họ cứ làm như thế ngày này qua ngày khác, do đó họ nhận được một số tiền lớn. 12 Vua và Giê-hô-gia-đa trao số tiền đó cho những người quản cai việc tái thiết Ðền Thờ CHÚA. Họ mướn các thợ nề và thợ mộc tu bổ Ðền Thờ CHÚA. Họ cũng thuê các thợ sắt và thợ đồng sửa sang Ðền Thờ CHÚA. 13 Vậy những người lãnh trách nhiệm đã làm việc rất chăm chỉ, và công việc tái thiết tiến hành rất tốt dưới sự lãnh đạo của họ. Họ hoàn tất công việc trùng tu Ðền Thờ Đức Chúa Trời, để nó giống như kiểu mẫu nguyên thủy của nó và còn làm cho nó vững chắc hơn.

14 Khi đã làm xong mọi việc, họ mang số tiền còn lại đến trao cho vua và Giê-hô-gia-đa. Họ dùng số tiền đó làm các vật dụng trong Ðền Thờ CHÚA, các vật dụng để thờ phượng và để dâng các của lễ thiêu, như vá, muỗng, và các vật dụng bằng vàng và bằng bạc. Suốt thời gian Giê-hô-gia-đa còn sống, họ trung tín dâng các của lễ thiêu trong Ðền Thờ CHÚA mỗi ngày. 15 Nhưng rồi Giê-hô-gia-đa cũng phải qua đời, vì ông đã quá già. Ông đã được cao niên trường thọ. Ông qua đời lúc một trăm ba mươi tuổi. 16 Người ta chôn ông trong Thành Ða-vít, trong khu các lăng tẩm của các vua, vì ông đã làm những việc tốt trong dân I-sơ-ra-ên cho Ðức Chúa Trời và cho Ðền Thờ Ngài.

Giô-ách Bỏ CHÚA, Bạc Nghĩa, và Bị Báo Trả Nhãn Tiền

17 Sau khi Giê-hô-gia-đa qua đời, các lãnh tụ của Giu-đa đến bái kiến vua, và vua đã nghe theo lời xúi giục của họ. 18 Họ bỏ sự thờ phượng trong Ðền Thờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ, mà quay qua thờ lạy các trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra và các thần tượng khác. Vì tội đó của họ, Ngài nổi giận đối với Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 19 Ngài đã sai các tiên tri của Ngài đến với họ để đem họ trở lại với CHÚA. Các vị ấy đã chứng minh cho họ thấy những điều sai lầm của họ, nhưng họ không nghe. 20 Lúc ấy Thần của Ðức Chúa Trời ngự trên Xa-cha-ri-a con của Tư Tế Giê-hô-gia-đa. Ông đứng trước mặt dân chúng và nói với họ, “Ðức Chúa Trời phán thế này: Tại sao các người vi phạm mạng lịnh của CHÚA? Các người sẽ không thành công đâu. Vì các người đã bỏ CHÚA, nên Ngài phải bỏ các người đó.”

21 Họ liền lập mưu với nhau để chống lại ông, và được lịnh của vua, họ ném đá ông chết ngay tại sân Ðền Thờ CHÚA. 22 Như thế Vua Giô-ách không nhớ đến tình nghĩa mà cha của Xa-cha-ri-a là Giê-hô-gia-đa đã làm cho ông mà giết chết con trai của ông ấy. Trước khi tắt thở Xa-cha-ri-a đã nói, “Cầu xin CHÚA đoái xem việc này và báo trả cho con.”

23 Vừa hết năm đó và qua đầu năm sau, quân A-ram kéo đến tấn công Giô-ách. Chúng tiến vào lãnh thổ Giu-đa và đến tận Giê-ru-sa-lem. Chúng giết tất cả các thủ lãnh của dân. Chúng lấy tất cả chiến lợi phẩm và gởi về cho vua chúng ở Ða-mách. 24 Dù quân A-ram chỉ đến với một đạo quân rất nhỏ, nhưng CHÚA đã trao một đội quân rất lớn vào tay chúng, vì họ đã bỏ CHÚA, Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ. Vì thế chúng đã thi hành án phạt đối với Giô-ách. 25 Khi quân A-ram rút đi, chúng đã bỏ Giô-ách ở lại với những vết thương trầm trọng. Các tôi tớ ông đã lập mưu chống lại ông, để báo trả cho máu của con trai Tư Tế Giê-hô-gia-đa. Chúng đã ám sát ông, và ông bị đâm chết trên giường. Người ta chôn ông trong Thành Ða-vít, nhưng không chôn trong khu lăng tẩm dành cho các vua. 26 Ðây là những người đã lập mưu chống lại ông: Xa-bát con của bà Si-mê-át một phụ nữ Am-môn và Giê-hô-xa-bát con của bà Sim-rít một phụ nữ Mô-áp. 27 Còn các hoạt động của các con ông, những sấm ngôn nghiêm trọng về ông, và việc trùng tu Ðền Thờ của Ðức Chúa Trời, đều đã được chép trong sách Sử Ký của Các Vua. Sau đó A-ma-xi-a con trai ông lên ngôi kế vị.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu